BƯỚC ĐẦU VÀO ĐẠO
Bạn là người mới bước chân vào đạo nên học và nghe bài giảng này. Đây
cũng như là cơ sở, nền móng cho tất cả những bài giảng khác ở trình độ
cao hơn. nếu bạn không nghe, không hiệu những điều cơ bản này, thì việc
tu tập của bạn giống như không có mục đích, không có điểm đến. Vậy bạn,
đã chuẩn bị cho mình được gì, bạn đã có được những hiểu biết gì khi bước
vào đạo, bạn sẽ đi con đường nào, cách thức để đi đến như thế nào? bạn
hãy bỏ chút thời gian, nghe bài giảng này thật kỹ, nghe đi nghe lại
nhiều lần. Mong rằng bạn sẽ có nền móng cho sự tu tập của bản thân và có
sự giác ngộ một con đường đạo.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!
(Bấm vào để xem video:
http://www.youtube.com/watch?v=8Gu3SDEfyms
do Đại đức Thích Trí Huệ giảng)
HOẶC trang BƯỚC ĐẦU HỌC PHẬT ở đây:
http://giacngovnnh.blogspot.com/
Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2013
Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2013
CHÚ ĐẠI BI VÀ SỰ LINH ỨNG CỦA QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT
CHÚ ĐẠI BI VÀ SỰ LINH ỨNG CỦA QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT
Đại đức: Thích Trí Huệ giảng
Bi Ai Lớn Nhất Của Đời Người Là Ghen Tị
Bổn Giác sưu tầm.
I. TƯỚNG DỤNG CHÚ ĐẠI BI
Phật nói chú này là thần chú quảng đại viên mãn, thần chú vô ngại đại bi, thần chú cứu khổ, thần chú diên thọ, thần chú diệt ác, thần chú phá ác nghiệp, thần chú mãn nguyện, thần chú tùy tâm tự tại, thần chú mau lên bậc trên... Trì chú này thì diệt vô lượng tội, được vô lượng phước, và chết thì sinh Cực lạc. Quan âm đại sĩ nói, trì chú này thì hết bịnh, hết nạn, tiêu ác pháp, tăng bạch pháp, như ý, như nguyện, đặc biệt gần chết thì được chư Phật trao tay, muốn sinh tịnh độ nào thì tùy ý mà sinh.
Biểu tượng của chú này là tâm đại bi, tâm bình đẳng, tâm vô vi, tâm vô nhiễm trước, tâm không quán, tâm cung kính, tâm khiêm tốn, tâm không hỗn loạn, tâm không kiến thủ, tâm tuệ giác vô thượng. Trì chú này thì phải hành theo biểu tượng như vậy.
II. HÀNH PHÁP CHÚ ĐẠI BI
Trì chú Ðại bi, đúng ra, mỗi một ngày đêm phải và chỉ cần 5 biến. Muốn trì chú này thì phải phát bồ đề tâm, rồi kính giữ trai giới, luôn luôn bình đẳng đối với tất cả, và trì tụng liên tục. Quan âm đại sĩ nói, đối với người ấy, ta soi thấy bằng ngàn mắt và nắm giữ bằng ngàn tay.
Dưới đây là nghi thức trì chú Ðại bi được lược lại giản dị. Nghi thức này nổi tiếng là hiệu quả:
1. Phụng hành
Nhất tâm phụng thỉnh Phật Pháp Tăng, vô thượng tam bảo (1 lạy).
Nhất tâm phụng thỉnh đức Phật bổn sư là Thích ca mâu ni như lai (1 lạy).
Nhất tâm phụng thỉnh vị có vô ngại đại bi tâm là Quan thế âm đại bồ tát (1 lạy).
Nhất tâm phụng thỉnh liệt vị Bồ tát,Duyên giác, La hán, liệt vị Phạn vương, Ðế thích và chư thiên thiện thần (1 lạy).
2. Tác bạch
Ðệ tử họ tên .....XX......., pháp danh .........XX........ (nếu đã có), phát nguyện trì chú Ðại bi, cầu cho bản thân, cho thân nhân, cho chúng sinh, tất cả cùng được thành tựu đại bi thắng phước. Ngưỡng nguyện đức đại bi Quan thế âm cùng Phật Pháp Tăng vô thượng tam bảo mật thùy chứng minh gia hộ.
3. Ðảnh lễ
Kính lạy Phật Pháp Tăng tam bảo vô thượng trong mười phương ba đời (1 lạy).
Kính lạy đức Phật bổn sư là Thích ca mâu ni như lai (1 lạy).
Kính lạy bài chú Tinh túy của đại từ bi (1 lạy).
Kính lạy vị thuyết ra bài chú Tinh túy của đại từ bi là Quan thế âm đại bồ tát (1 lạy).
Kính lạy đức Phật bổn sư của đức Quan thế âm 1à A di đà như lai (1 lạy).
Kính lạy đức Phật truyền thọ cho đức Quan thế âm bài chú Tinh túy của đại từ bi là Thiên quang vương tịnh trú như lai (1 lạy).
Kính lạy các vị pháp vương tử quán đảnh trong pháp hội tuyên thuyết bài chú Tinh túy của đại từ bi mà đứng đầu là đại bồ tát Tổng trì vương, đại bồ tát Bảo vương, đại bồ tát Dược vương, đại bồ tát Dược thượng, đại bồ tát Ðại thế chí, đại bồ tát Hoa nghiêm, đại bồ tát Ðại trang nghiêm, đại bồ tát Bảo tạng, đại bồ tát Ðức tạng, đại bồ tát Kim cang tạng, đại bồ tát Hư không tạng, đại bồ tát Di lạc, đại bồ tát Phổ hiền, đại bồ tát Văn thù (1 lạy).
4. Phát nguyện
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con mau biết tất cả các pháp (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con sớm được con mắt trí tuệ (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con mau độ tất cả chúng sinh (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con sớm được phương tiện tuyệt hảo (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con mau ngồi thuyền tàu bát nhã (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con sớm vượt biển cả khổ đau (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con mau được các pháp giới định (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con sớm lên núi cao niết bàn (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con mau về ngôi nhà vô vi (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con sớm đồng thân thế pháp tánh (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con đến núi đao thì núi đao tự gãy (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con đến vạc sôi thì vạc sôi tự cạn (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con đến địa ngục thì địa ngục tự hủy (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con đến ngạ quỉ thì ngạ quỉ tự no (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con đến tu la thì tu la tự hiền (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con đến súc sinh thì súc sinh tự khôn (1 lạy).
5. Trì niệm
Nam mô Quan thế âm bồ tát (21 tiếng đến 49 tiếng rồi lạy 3 lạy).
Nam mô A di đà phật (như trên).
6. Trì chú
Nam mô Ðại bi hội thượng Phật Bồ tát (3 lần)
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni:
Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca rô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát đả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô cát đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đá na ma bà dà. Ma phạt đặc đậu. Ðát điệt tha. Án. A bà lô hê, lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô yết mông. Ðộ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế. Ðà ra đà ra. Ðịa rị ni. Thất phật ra da. Dá ra dá ra. Mạ mạ. Phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê y hê. Thất na thất na. A ra sâm phật ra xá lị, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị. Sa ra sa ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ, bồ đề dạ. Bồ đà dạ, bồ đà dạ. Di đế lị dạ. Na ra cẩn trì. Ðịa lị sắt ni na. Ba dạ ma na, sa bà ha. Tất đà dạ, sa bà ha. Ma ha tất đà dạ, sa bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì, sa bà ha. Ma ra na ra, sa bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, sa bà ha. Sa bà ma ha a tất đà dạ, sa bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ, sa bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì, bàn đà ra dạ, sa bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, sa bà ha. Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a lị da, Bà lô cát đế. Thước bàn ra dạ, sa bà ha. Án tát điện đô, Mạn đa ra, Bạt đà da, sa bà ha.
(5 lần, tụng theo bình thường; tụng thẳng Phạn tự không linh nghiệm bằng, có người kiên nhẫn thử nghiệm thấy như vậy).
7. Sám nguyện
Kính lạy đại bồ tát Quan thế âm, vô thỉ đến giờ, con vốn có tâm tánh thanh tịnh mà lại u mê ám chướng, sống trong pháp tánh bình đẳng mà lại nhân ngã bỉ thử, lỗi gây ra không thể xiết kể, tội bùng dậy khó nỗi hủy diệt. Ngày nay nhờ đại bi của đại bồ tát, đại lực của đại thần chú, con nguyện được tiêu diệt cả (1 đến 3 lạy; 3 lạy thì mỗi lạy đọc 1 lần).
Kính lạy đại bồ tát Quan thế âm, xin đại bồ tát nắm giữ con bằng ngàn tay, soi thấy con bằng ngàn mắt, làm cho con bặt hết yếu tố tội ác, làm theo hạnh nguyện quảng đại, đủ đại từ bi, chứng đại bát nhã (1 đến 3 lạy; 3 lạy thì mỗi lạy đọc 1 lần).
8. Hồi hướngNguyện đem công đức này
hồi hướng khắp tất cả,
đệ tử và chúng sinh
đều trọn thành Phật tuệ.
Kính lạy Phật Pháp Tăng, vô thượng tam bảo (1 lạy).
Kính lạy đức Phật bổn sư là Thích ca mâu ni như lai (1 lạy).
Kính lạy vị có vô ngại đại bi tâm là Quan thế âm đại bồ tát (1 lạy).
Kính lạy bài chú Tinh túy của đại từ bi (1 lạy).
Kính lạy đức Phật bổn sư của đức Quan thế âm là A di đà như lai (1 lạy).
Kính lạy đức Phật truyền thọ cho đức Quan thế âm bài chú Tinh túy của đại từ bi là Thiên quang vương tịnh trú như lai (1 lạy).
Kính lạy liệt vị Bồ tát, Duyên giác, La hán, liệt vị Phạn vương, Ðế thích và chư thiên thiện thần (1 lạy).
Đại đức: Thích Trí Huệ giảng
NGHI THỨC TRÌ CHÚ ÐẠI BI (ĐƠN GIẢN)
I. TƯỚNG DỤNG CHÚ ĐẠI BI
Phật nói chú này là thần chú quảng đại viên mãn, thần chú vô ngại đại bi, thần chú cứu khổ, thần chú diên thọ, thần chú diệt ác, thần chú phá ác nghiệp, thần chú mãn nguyện, thần chú tùy tâm tự tại, thần chú mau lên bậc trên... Trì chú này thì diệt vô lượng tội, được vô lượng phước, và chết thì sinh Cực lạc. Quan âm đại sĩ nói, trì chú này thì hết bịnh, hết nạn, tiêu ác pháp, tăng bạch pháp, như ý, như nguyện, đặc biệt gần chết thì được chư Phật trao tay, muốn sinh tịnh độ nào thì tùy ý mà sinh.
Biểu tượng của chú này là tâm đại bi, tâm bình đẳng, tâm vô vi, tâm vô nhiễm trước, tâm không quán, tâm cung kính, tâm khiêm tốn, tâm không hỗn loạn, tâm không kiến thủ, tâm tuệ giác vô thượng. Trì chú này thì phải hành theo biểu tượng như vậy.
II. HÀNH PHÁP CHÚ ĐẠI BI
Trì chú Ðại bi, đúng ra, mỗi một ngày đêm phải và chỉ cần 5 biến. Muốn trì chú này thì phải phát bồ đề tâm, rồi kính giữ trai giới, luôn luôn bình đẳng đối với tất cả, và trì tụng liên tục. Quan âm đại sĩ nói, đối với người ấy, ta soi thấy bằng ngàn mắt và nắm giữ bằng ngàn tay.
Dưới đây là nghi thức trì chú Ðại bi được lược lại giản dị. Nghi thức này nổi tiếng là hiệu quả:
1. Phụng hành
Nhất tâm phụng thỉnh Phật Pháp Tăng, vô thượng tam bảo (1 lạy).
Nhất tâm phụng thỉnh đức Phật bổn sư là Thích ca mâu ni như lai (1 lạy).
Nhất tâm phụng thỉnh vị có vô ngại đại bi tâm là Quan thế âm đại bồ tát (1 lạy).
Nhất tâm phụng thỉnh liệt vị Bồ tát,Duyên giác, La hán, liệt vị Phạn vương, Ðế thích và chư thiên thiện thần (1 lạy).
2. Tác bạch
Ðệ tử họ tên .....XX......., pháp danh .........XX........ (nếu đã có), phát nguyện trì chú Ðại bi, cầu cho bản thân, cho thân nhân, cho chúng sinh, tất cả cùng được thành tựu đại bi thắng phước. Ngưỡng nguyện đức đại bi Quan thế âm cùng Phật Pháp Tăng vô thượng tam bảo mật thùy chứng minh gia hộ.
3. Ðảnh lễ
Kính lạy Phật Pháp Tăng tam bảo vô thượng trong mười phương ba đời (1 lạy).
Kính lạy đức Phật bổn sư là Thích ca mâu ni như lai (1 lạy).
Kính lạy bài chú Tinh túy của đại từ bi (1 lạy).
Kính lạy vị thuyết ra bài chú Tinh túy của đại từ bi là Quan thế âm đại bồ tát (1 lạy).
Kính lạy đức Phật bổn sư của đức Quan thế âm 1à A di đà như lai (1 lạy).
Kính lạy đức Phật truyền thọ cho đức Quan thế âm bài chú Tinh túy của đại từ bi là Thiên quang vương tịnh trú như lai (1 lạy).
Kính lạy các vị pháp vương tử quán đảnh trong pháp hội tuyên thuyết bài chú Tinh túy của đại từ bi mà đứng đầu là đại bồ tát Tổng trì vương, đại bồ tát Bảo vương, đại bồ tát Dược vương, đại bồ tát Dược thượng, đại bồ tát Ðại thế chí, đại bồ tát Hoa nghiêm, đại bồ tát Ðại trang nghiêm, đại bồ tát Bảo tạng, đại bồ tát Ðức tạng, đại bồ tát Kim cang tạng, đại bồ tát Hư không tạng, đại bồ tát Di lạc, đại bồ tát Phổ hiền, đại bồ tát Văn thù (1 lạy).
4. Phát nguyện
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con mau biết tất cả các pháp (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con sớm được con mắt trí tuệ (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con mau độ tất cả chúng sinh (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con sớm được phương tiện tuyệt hảo (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con mau ngồi thuyền tàu bát nhã (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con sớm vượt biển cả khổ đau (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con mau được các pháp giới định (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con sớm lên núi cao niết bàn (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con mau về ngôi nhà vô vi (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con sớm đồng thân thế pháp tánh (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con đến núi đao thì núi đao tự gãy (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con đến vạc sôi thì vạc sôi tự cạn (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con đến địa ngục thì địa ngục tự hủy (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con đến ngạ quỉ thì ngạ quỉ tự no (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con đến tu la thì tu la tự hiền (1 lạy).
Kính lạy đức Quan thế âm, nguyện con đến súc sinh thì súc sinh tự khôn (1 lạy).
5. Trì niệm
Nam mô Quan thế âm bồ tát (21 tiếng đến 49 tiếng rồi lạy 3 lạy).
Nam mô A di đà phật (như trên).
6. Trì chú
Nam mô Ðại bi hội thượng Phật Bồ tát (3 lần)
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni:
Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca rô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát đả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô cát đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đá na ma bà dà. Ma phạt đặc đậu. Ðát điệt tha. Án. A bà lô hê, lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô yết mông. Ðộ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế. Ðà ra đà ra. Ðịa rị ni. Thất phật ra da. Dá ra dá ra. Mạ mạ. Phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê y hê. Thất na thất na. A ra sâm phật ra xá lị, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị. Sa ra sa ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ, bồ đề dạ. Bồ đà dạ, bồ đà dạ. Di đế lị dạ. Na ra cẩn trì. Ðịa lị sắt ni na. Ba dạ ma na, sa bà ha. Tất đà dạ, sa bà ha. Ma ha tất đà dạ, sa bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì, sa bà ha. Ma ra na ra, sa bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, sa bà ha. Sa bà ma ha a tất đà dạ, sa bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ, sa bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì, bàn đà ra dạ, sa bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, sa bà ha. Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a lị da, Bà lô cát đế. Thước bàn ra dạ, sa bà ha. Án tát điện đô, Mạn đa ra, Bạt đà da, sa bà ha.
(5 lần, tụng theo bình thường; tụng thẳng Phạn tự không linh nghiệm bằng, có người kiên nhẫn thử nghiệm thấy như vậy).
7. Sám nguyện
Kính lạy đại bồ tát Quan thế âm, vô thỉ đến giờ, con vốn có tâm tánh thanh tịnh mà lại u mê ám chướng, sống trong pháp tánh bình đẳng mà lại nhân ngã bỉ thử, lỗi gây ra không thể xiết kể, tội bùng dậy khó nỗi hủy diệt. Ngày nay nhờ đại bi của đại bồ tát, đại lực của đại thần chú, con nguyện được tiêu diệt cả (1 đến 3 lạy; 3 lạy thì mỗi lạy đọc 1 lần).
Kính lạy đại bồ tát Quan thế âm, xin đại bồ tát nắm giữ con bằng ngàn tay, soi thấy con bằng ngàn mắt, làm cho con bặt hết yếu tố tội ác, làm theo hạnh nguyện quảng đại, đủ đại từ bi, chứng đại bát nhã (1 đến 3 lạy; 3 lạy thì mỗi lạy đọc 1 lần).
8. Hồi hướngNguyện đem công đức này
hồi hướng khắp tất cả,
đệ tử và chúng sinh
đều trọn thành Phật tuệ.
Kính lạy Phật Pháp Tăng, vô thượng tam bảo (1 lạy).
Kính lạy đức Phật bổn sư là Thích ca mâu ni như lai (1 lạy).
Kính lạy vị có vô ngại đại bi tâm là Quan thế âm đại bồ tát (1 lạy).
Kính lạy bài chú Tinh túy của đại từ bi (1 lạy).
Kính lạy đức Phật bổn sư của đức Quan thế âm là A di đà như lai (1 lạy).
Kính lạy đức Phật truyền thọ cho đức Quan thế âm bài chú Tinh túy của đại từ bi là Thiên quang vương tịnh trú như lai (1 lạy).
Kính lạy liệt vị Bồ tát, Duyên giác, La hán, liệt vị Phạn vương, Ðế thích và chư thiên thiện thần (1 lạy).
Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013
22 ĐIỀU LỢI ÍCH KHI NIỆM PHẬT
22 ĐIỀU LỢI ÍCH KHI NIỆM PHẬT
Theo yêu cầu của một số phật tử tại gia, hôm nay chúng tôi đăng lại bài này và gửi lại đường link về bài 22 ĐIỀU LỢI ÍCH KHI NIỆM PHẬT đã đăng ở đây để quý vị tham khảo:
http://giacngovnna.blogspot.com/2013/01/22-ieu-loi-ich-khi-niem-phat.html
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Chúng ta niệm phật dù ít dù nhiều đều có công đức. Người tu niệm phật là người phát tâm tu niệm hồng danh của đức phật a di đà mà trong tâm không cầu xin gì cả mà niệm phật để cầu giải thoát, giác ngộ. Mà trong kiếp sống này người đó phát tâm bồ đề nguyện được thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi.
Ngồi quỳ trước ban thờ phật quí vị phát nguyện: Con là ........., pháp danh là ............ Hôm nay con niệm phật để cầu ..... nhờ đức phật ai hữu gia hộ cho con để cho con yên tâm tu niệm.(Sau đó niệm phật: NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ....- niệm đều tiếng, liên tục không đứt đoạn, tham khảo thêm cách niệm phật )
22 điều lợi ích khi niệm phật đó là:
1. Niệm phật diệt trừ tội chứng
sâu nặng ở trong tâm;
2. Được ánh sáng nhiếp thọ (Hộ
trị tâm cho chúng ta);
3. Niệm phật được Đức phật A Di Đà
hộ niệm (hộ cho mình niệm);
Khi chúng ta tu niệm phật, thì mình
quỳ trước bàn thờ Phật nói con tên họ là gì, pháp danh... Từ nay con quyết quy
y với đức Phật a di đà, con niệm đến hồng danh của ngài, khi con sống trên thế
gian này xin ngài độ cho con nhiếp tập vào sâu trong chánh niệm và khi con xả cái
thân này rồi, xin ngài cùng thánh chúng rước con về cõi tây phương cực lạc. Mình
phát cái tâm đó, mình niệm Nam
mô a di đà phật.
4. Bồ Tát thầm gia hộ (bồ tát,
chư phật, chư thiên nghe bằng tâm niệm, chúng ta tịnh tâm lại thì Đức quán thế âm
bồ tát nghe liền);
5. Được chư phật bảo hộ (Bảo là
bảo trì, hộ là hộ độ từ đầu tới cuối)
6. Bát bộ hộ vệ (tám vị thần Kim Cang hộ trì - các vị hộ pháp)
7. Báu vật công đức tích tụ (Có
công đức - là tu tập chuyển tâm phàm thành tâm thánh)
8. Đa văn trí tuệ (được thông
minh)
9. Niệm phật nhiếp tâm không thối
chuyển đạo bồ đề (Ma chướng không xâm nhập được)
10. Thấy phật A Di Đà
11. Cảm thánh chúng đều tiếp rước
(Khi lâm chung được tiếp rước)
12. Từ quang chiếu rọi . Lòng từ
thương yêu tất cả muôn loài. Mỗi khi chúng ta ngủ thức dậy, chúng ta đọc: Nam mô
bổn sư thích ca mâu ni phật, Nam mô a di đà phật, Con tên gì đó, pháp danh gì đó,
Xin mười phương chư phật gia hộ cho con có đủ lòng thương yêu tất cả mọi loài
chúng sanh, từ loài hữu tình đến loài vô tình, loài sống trên cạn, loài sống dưới
nước, loài sống trên không và tất cả mọi loài trong tam giới cho con đều biết
thương yêu cả.
13. Bạn lành thánh chúng đồng
khen ngợi (Bạn lành tán thán)
14. Bạn lành thánh chúng đồng tiếp
rước;
15. Thần thông bay lên hư không
(Có thần thông);
16. Sắc thân thù thắng (Sắc tướng
càng ngày càng đẹp ra);
17. Niệm phật mạng sống lâu dài.
18. Được sanh nơi thù thắng (Được
sanh ở những nới tốt đẹp tránh được 3 đường ác: Địa ngục, ngã quỷ, súc sinh);
19. Tận mắt gặp thánh chúng;
20. Chứng ngộ vô sanh pháp nhẫn
(thoát khỏi luân hồi sinh tử đời đời kiếp kiếp không quay lại);
21. Trải qua phụng sự cho phật
pháp, phát tâm bồ tát dễ dàng (Tâm bồ tát);
22. Trở về cõi nước mình được Đà
La ni (Tổng trì);
Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2013
NIỆM PHẬT SÁM HỐI TỘI DIỆT - PHƯỚC SINH
NIỆM PHẬT SÁM HỐI TỘI DIỆT PHƯỚC SINH
Tại sao lại nói: Niệm phật sám hối tội diệt Phước sinh? Đại Đức Thích Trí Huệ sẽ giải thích cụ thể niệm phật là gì? vì sao lại tội diệt? phước sinh?
Con người chúng ta đã trả qua trăm nghìn muôn kiếp, mỗi kiếp chất chồng bao nhiêu tội lỗi và đến kiếp này mang theo biết bao nhiêu nghiệp chướng (mà ta thường hay nói là tội nghiệp). Đã mang theo tội nghiệp thì ắt hẳn phải trả. Nhưng khi niệm phật thì tội lỗi này dần dần mất đi, do lòng từ bi của chúng ta sinh ra, lớn dần lên, cư xử đúng đạo lý, trời đất cảm động, tội nghiệp sẽ bị diệt dần đi. Từ đó mà Phước Đức tăng trưởng. Nhiều bài trước, Đại đức Thích Trí Huệ đã giảng rõ. Hôm nay, với chút lòng thành, chúng tôi gửi bài giảng của Đại đức ở đây, nguyện rằng những ai có duyên đọc được, nghe thấy đều được phát bồ đề tâm, tự tiêu diệt tội lỗi của mình trong muôn kiếp trước.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.
Mời quý vị xem VIDEO sau:
Tại sao lại nói: Niệm phật sám hối tội diệt Phước sinh? Đại Đức Thích Trí Huệ sẽ giải thích cụ thể niệm phật là gì? vì sao lại tội diệt? phước sinh?
Con người chúng ta đã trả qua trăm nghìn muôn kiếp, mỗi kiếp chất chồng bao nhiêu tội lỗi và đến kiếp này mang theo biết bao nhiêu nghiệp chướng (mà ta thường hay nói là tội nghiệp). Đã mang theo tội nghiệp thì ắt hẳn phải trả. Nhưng khi niệm phật thì tội lỗi này dần dần mất đi, do lòng từ bi của chúng ta sinh ra, lớn dần lên, cư xử đúng đạo lý, trời đất cảm động, tội nghiệp sẽ bị diệt dần đi. Từ đó mà Phước Đức tăng trưởng. Nhiều bài trước, Đại đức Thích Trí Huệ đã giảng rõ. Hôm nay, với chút lòng thành, chúng tôi gửi bài giảng của Đại đức ở đây, nguyện rằng những ai có duyên đọc được, nghe thấy đều được phát bồ đề tâm, tự tiêu diệt tội lỗi của mình trong muôn kiếp trước.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.
Mời quý vị xem VIDEO sau:
Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2013
Sự Giác Ngộ của đức Phật là quá trình chuyển hóa Tâm Linh
Sự Giác Ngộ của đức Phật là quá trình chuyển hóa Tâm Linh. Thích Quang Thạnh
Chuyển hóa tâm linh là một quá trình nổ lực tu tập liên tục theo thứ lớp bằng con đường Bát Chánh được biểu hiện qua 3 món Tam Vô Lậu: Giới, Định, Tuệ mà Ngài đã trải qua. Chỉ có con đường Bát Chánh mới có thể đưa con người diệt tận phiền não khổ đau, chấm dứt sanh tử luân hồi, đạt đến sự an lạc hạnh phúc, giải thoát giác ngộ.
Với bầu không khí mùa Đông giá lạnh trong khung cảnh êm đềm tịch tĩnh của màn đêm, khi nhân loại còn đang mải mê đắm chìm trong giấc ngủ say sưa của dòng đời vô minh, ngũ dục đầy đau khổ, có ai biết chăng trong số đó một bậc vĩ nhơn siêu phàm chợt bừng tỉnh thức hoàn toàn bản chất tự tâm tại cây Bồ-đề thiêng trong đêm hôm ấy vào năm 528 trước Công Nguyên.(1) Đó là Thái tử Siddhattha với độ tuổi vừa tròn 35. Ngài đã thực sự chứng ngộ quả vị Vô Thượng Bồ-đề, giải thoát hoàn toàn mọi phiền não vô minh, sinh tử luân hồi, và đã trở thành vị Phật với danh hiệu Thích-ca-mâu-ni.
Sự chứng ngộ của Ngài đã mở ra cho nhân loại một hướng đi mới nhằm giải thoát mọi phiền não khổ đau, hầu mang lại cho con người một cuộc sống hoàn toàn chân thiện mỹ và đầy an lạc hạnh phúc qua con đường tu tập lý Trung Đạo mà Ngài đích thân đã chứng ngộ. Trong kinh Pháp Cú, Ngài đã dõng dạc tuyên bố với nhân loại rằng:
"Chỉ có con đường này; không có con đường nào khác đưa đến sự thanh tịnh về tri kiến. Thực hành theo con đường này, mọi thứ khác trên cuộc đời đều là sự mê loạn của Ma Vương" (This is the path; there is no other that leads to the purification of intelligence. Follow this (path), for everything else (in this world) is the deceit of Màra the Tempter).(2)
Ngài cũng khẳng định cho chúng ta biết rằng: Sự giác ngộ của mỗi người đều tuỳ thuộc vào sự nỗ lực tự thân mà không phải nương tựa vào ai:
"Các ngươi phải tự nỗ lực lên. Các đức Như Lai chỉ là những người chỉ dạy. Những người đi theo con đường này và thực hành thiền định sẽ giải thoát khỏi sự ràng buộc của Ma Vương" - (You yourself must make an effort. The Blessed Ones (Tathàgata) are only preachers. Those who follow the Path and practise meditation are freed from the bondage of Màra the Tempter).(3)
Ngày nay, tuy Đức Phật đã đi vào trạng thái Niết-bàn, sự kiện giác ngộ tại linh cội Bồ-đề và lời dạy của Ngài vẫn luôn là tiếng chuông ngân vang mãi trong mỗi trái tim của người con Phật (nói riêng) và cả thế giới nhân loại (nói chung) suốt hơn 25 thế kỷ qua.
Nhân dịp lễ tưởng niệm ngày Phật Thành Đạo, Phật Lịch 2545, và chào đón thiên niên kỷ mới của nhân loại năm 2001 tại Bồ-đề Đạo Tràng, người viết xin được mạo muội góp chút suy nghĩ và sự hiểu biết của mình cho buổi thảo luận với chủ đề: "Sự giác ngộ của Đức Phật là quá trình chuyển hoá tâm linh"
I . GIẢI THÍCH Ý NGHĨA ĐỀ TÀI
Trước nhất, chúng ta nên thảo luận một vài từ ngữ để làm sáng tỏ hơn về ý nghĩa của đề tài. Chữ "giác ngộ" được các nhà học giả dịch ra nhiều khía cạnh và ý nghĩa khác nhau. Theo Từ Điển thuật ngữ Phật học Hán Anh, chữ "giác ngộ" có nghĩa là: "thức tỉnh, trở thành tuệ giác, hoặc sự nhận thức rõ ràng về thực tại tâm linh" (to awake, become enlightenment, or comprehend spiritual reality).(4) Trong cuốn Bách Khoa Từ Điển của Đại học Oxford, "giác ngộ" bao hàm 2 nghiã: (a) hành động tỉnh thức (act of enlightenment), (b) trạng thái được thức tỉnh (state of being enlightened).(5) Ngoài ra, chữ "giác ngộ" còn có nghĩa là "trạng thái tâm linh cao nhất có thể đạt được" (Enlightenment is the highest spiritual state that can be achieved).(6)
Chữ "tâm linh" có nghĩa là "tâm hồn"(7), hay còn gọi là "tâm tinh thần hoặc tư tưởng."(8) Theo Từ Điển Pàli - English, chữ "tâm" được viết theo chữ Pàli là Citta, có nghĩa là "trọng tâm và tiêu điểm của bản tính xúc cảm của con người, cũng như căn bản trí vốn sẵn có bên trong và đi kèm với những sự biểu lộ bên ngoài của nó, ví dụ tư tưởng. Hay nói đơn giản hơn, tâm chính là "sự tư duy" (the center and focus of man’s emotional nature as well as that intellectual element which inheres in and accompanies its manifestations; i.e. thought).(9) Mặt khác, "tâm" có nghĩa là "khả năng để tư duy, cảm thọ và để nhận thức về sự vật" (the ability to think, feel emotions and be aware of thing).(10) Hay có nghĩa là " năng lực tri kiến" (one’s intellectual powers )(11)
Chữ "quá trình" ở đây được dùng để chỉ chung cho khoảng thời gian tu tập lâu dài tuần tự theo thứ lớp, mà không có sự vượt bậc, đột ngột.
Chữ "chuyển hoá" có nghĩa là sự chuyển đổi từ tư tưởng tiêu cực sang tư tưởng tích cực, từ tâm phiền não trở thành tâm giải thoát v.v. . .
Tóm lại, trong đề tài này, người viết muốn nhấn mạnh chữ "giác ngộ" mang ý nghĩa là: sự nhận thức thấu đáo được bản chất như thật của vạn hữu. Chữ "Tâm Linh" được dùng với ý nghĩa: tâm hồn hoặc tư tưởng. Từ đây ta có thể hiểu rõ hơn về chủ đề của bài viết này là: "Sự nhận thức thấu đáo của Đức Phật về bản chất như thật vạn hữu là một quá trình tu tập lâu dài chuyển hoá tâm linh theo thứ lớp."
II . SỰ GIÁC NGỘ CỦA ĐỨC PHẬT LÀ QÚA TRÌNH CHUYỂN HÓA TÂM LINH
Khi nói đến "qúa trình," người viết muốn nhấn mạnh về chuỗi thời gian tiệm tiển trong tiến trình giác ngộ của đức Phật để chứng minh rằng: Sự Giác Ngộ của Đức Phật không phải chỉ trong thời gian ngắn ngủi đôi ba phút mà thành tựu, nó đòi hỏi cả một quá trình tu tập lâu dài và bền bỉ của Ngài ngay từ khi bắt đầu thực hành pháp tu khổ hạnh cho đến lúc chứng ngộ quả vị Vô Thượng Bồ-đề, tức thành Phật. Vậy bằng phương pháp gì Đức Phật tu tập trong suốt quá trình chuyển hóa tâm linh để chứng ngộ Bồ-đề? Chúng ta hãy cùng nhau thảo luận tuần tự về vấn đề này.
1. BẰNG PHƯƠNG PHÁP TU TẬP VƯỢT QUA HAI LỐI SỐNG CỰC ĐOAN
Khi Đức Phật còn là một vị Thái tử, Ngài đã từng sống trong cảnh xa hoa lộng lẫy, được nuông chiều chăm sóc và nuôi dưỡng cẩn thận của một hoàng nam: nào là sống trong một cung điện nguy nga tráng lệ sang trọng hợp theo thời tiết 3 mùa: mùa Đông, mùa Hạ, và mùa Mưa; nào là ăn mặc quần áo bằng các loại vải Kàsi thượng hạng được mang về từ thành Ba-la-nại,.v.v.(12); cho đến lúc Ngài trở thành vị Sa-môn thực hiện đời sống tu hành ép xác khổ hạnh hơn ai hết: nào là theo phương pháp hướng nội như thiền nín thở, nghiến răng, chận lưỡi,.v.v.(13); nào là theo phương pháp hướng ngoại như mặc y phấn tảo, nhịn ăn đến độ chỉ còn dùng một nắm gạo hay 1 trái cây mỗi ngày (14). Nhưng tất cả mọi thứ ấy đều không đưa Ngài đến sự an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn. Ngài nghĩ rằng:
"…Dầu ta có theo cử chỉ như vậy, theo hành lộ như vậy, theo khổ hạnh như vậy, ta cũng không chứng được các pháp Thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Vì sao vậy? Vì với những phương tiện ấy, không chứng được pháp Thượng nhơn với Thánh trí tuệ. Chính thánh trí tuệ này chứng được thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau."(15)
Cuối cùng Ngài đã từ bỏ hai lối sống cực đoan và nhận thức rằng: cuộc đời không phải lúc nào cũng đem đến cho con người mọi lạc thú an vui và hạnh phúc, ngay chính đằng sau mọi lạc thú và hạnh phúc ấy đều sẵn có nỗi khổ đau vô thường rình rập họ. Ngài đã dạy các đệ tử rằng:
"Này các Tỳ-kheo! Có hai cực đoan mà người xuất gia không nên thực hành theo. Thế nào là hai ? Một là đắm say trong các dục (kàmesu), hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Hai là tự hành khổ mình, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Tránh xa hai cực đoan này, này các Tỳ-kheo, là con đường Trung đạo do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn."(16)
Từ những kinh nghiệm cuộc sống sung túc xa hoa và lối sống tu hành ép xác khổ hạnh, Ngài đã phá bỏ hai con đường cực đoan ấy và tìm ra được một con đường mới, đó là con đường Trung đạo với lối sống tri túc, quân bình, đúng đắn và thích hợp qua hình ảnh Ngài tiếp nhận bát cơm đầy sữa của nàng Sujata. Chính con đường Trung đạo đã đưa đức Như Lai diệt tận mọi khổ đau, phiền não, vô minh và thành tựu thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Vậy thế nào là con đường Trung đạo? Đó chính là "con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Đây là con đường Trung đạo, này các Tỳ-kheo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn."(17)
Sự chứng ngộ của Đức Phật là sự kiện bắt nguồn cho một trường phái tư tưởng mới, một tôn giáo mới, một khối kim cương pha lê của giác ngộ, vượt thoát khỏi mọi ràng buộc và chấp mắc ở đời. Trong ánh sáng chói lọi của sự giác ngộ, xuất hiện ra một hệ tư tưởng mới được hun đúc từ sự hoà hợp của những yếu tố tư tưởng cũ và mới, giải thích hiện tượng nhân sinh và thế giới quan về bản chất như thật của nó, phá vỡ tư tưởng Ngã và Ngã sở, nêu rõ con đường Trung đạo chấm dứt mọi phiền não khổ đau đưa đến sự an lạc giải thoát, và cuối cùng vượt hẳn lên mọi tri kiến lỗi thời để trở thành chân lý phổ quát bao trùm vạn vật.
2. BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH CON ĐƯỜNG BÁT CHÁNH
Chuyển hóa tâm linh là một quá trình nổ lực tu tập liên tục theo thứ lớp bằng con đường Bát Chánh được biểu hiện qua 3 món Tam Vô Lậu: Giới, Định, Tuệ mà Ngài đã trải qua. Chỉ có con đường Bát Chánh mới có thể đưa con người diệt tận phiền não khổ đau, chấm dứt sanh tử luân hồi, đạt đến sự an lạc hạnh phúc, giải thoát giác ngộ. Và bằng phương pháp này, đức Phật đã chứng ngộ tâm linh thành tựu quả vị Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ngài đã khẳng định rõ ràng rằng: "Mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, Như Lai là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành." Điều này Ngài muốn nói rằng: Sự giác ngộ mà Đức Phật đã chứng được tại linh cội Bồ-đề cũng chính là quả giác ngộ của chúng ta trong tương lai nếu như chúng ta tu theo thứ lớp và đúng theo con đường Bát Chánh. Ngay tại đây, Đức Phật đã khéo để lại cho chúng ta bài học kinh nghiệm rằng: Trước khi tu tập tâm linh, hành giả phải tu tập Tuệ học bằng sự nhận thức đúng đắn về con đường Bát Chánh đưa con người đến sự diệt khổ và đạt được thắng trí giác ngộ Niết-bàn (Chánh kiến), đồng thời phải quán triệt thấu đáo như thật về bản chất của Ngã và Ngã sở (Chánh tư duy). Khi thấu triệt đúng đắn như thế, hành giả tiếp tục tu tập Định học bằng cách chuyên tâm tinh tấn tu trì một cách nhiệt tâm (Chánh tinh tấn) qua phương pháp chánh niệm tỉnh giác trong tứ oai nghi và tam nghiệp (Chánh niệm) với trạng thái tâm an tịnh, kiên cố và không thối chuyển (Chánh định). Với tâm kiên cố và thuần thục, hành giả thực hành Giới học được biểu lộ qua lối sống đạo đức (Chánh mạng), lời nói ôn hoà nhã nhặn khiêm tốn (Chánh ngữ), và việc làm đúng đắn của chính mình (Chánh nghiệp). Có như thế, con đường Bát Chánh mà chúng ta đang tu tập hầu mong mới có ngày đạt đến:
"Buộc tâm lấy Giới làm dây,
Lắng tâm lấy Định dựng xây đạo tràng,
Rõ tâm đuốc Tuệ soi đường,
Tâm không cảnh tịch Niết-bàn an vui."
Mặt khác, đối với giáo lý của đức Phật, Ngài không bao giờ khuyên chúng ta phải tin theo một cách hồ đồ và mù quáng; mà trái lại, Ngài căn dặn khi nghe Pháp và thực hành Pháp điều trước tiên phải tuân theo 3 bước cơ bản: Văn (lằng nghe hay học hỏi tường tận), TƯ (suy nghĩ chính xác), Tu (thực hành đúng cách và nghiêm túc). Ngài nhấn mạnh rằng giáo pháp của Ngài không phải chỉ đến để mà tin, ngược lại "đến để nghe," để suy nghĩ và cuối cùng là để tu tập. Điều này có nghĩa là bất cứ con người nào trước khi tu tập, họ cần phải thẩm đạt và thấu triệt rõ ràng về con đường mình đang tu tập đưa đến giá trị lợi lạc cho tâm linh hay không? Đó là điều cơ bản và cần thiết cho người học Phật hiểu rõ. Ngay cả đức Phật, trước khi vào thiền định tu tập về con đường Bát Chánh, Ngài cũng phải hiểu rõ về giá trị lợi lạc của con đường ấy ra sao trong khi tu tập. Qua ý nghĩa này, cho tới ngày nay chúng ta vẫn còn nghe vang vọng đâu đây lời nhắc nhở của các bậc Tôn đức trưởng lão đối với thế hệ trẻ Tăng Ni ngày nay: "Phàm tác sự tu tư duy chi hậu quả," có nghĩa là: Phàm làm việc gì phải suy nghĩ kỹ lưỡng hậu quả của nó về sau.
3. QUÁ TRÌNH CHUYỂN HOÁ TÂM LINH BẰNG SỰ KẾT HỢP THIỀN VÀ TUỆ THEO THỨ LỚP
Ngay khi tiếp nhận bát cơm đầy sữa của nàng Sujata và từ bỏ lối sống tu tập ép xác khổ hạnh, đức Phật đã tìm ra được con đường Trung đạo đưa đến sự an tịnh thắng trí bằng sự kết hợp Thiền và Tuệ. Suốt 49 ngày đêm ngồi trầm tư dưới cội Bồ-đề, tư tưởng Ngài không hề nảy sinh một chút giải đãi và biếng lười nào, tâm Ngài luôn an trú trong chánh niệm tỉnh giác qua từng hơi thở ra vào, kiên quyết diệt trừ những ảo tưởng tham ái vô minh phiền não ở nội tâm qua từng sát na, kết quả cuối cùng đưa đến cho Ngài với thân được khinh an, không dao động; tâm được định tỉnh và thuần nhất. Ngài bắt đầu tuần tự thể nhập vào trạng thái thiền định qua 4 giai đoạn, và chứng đắc Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền.(18) Ngay tại đây, chúng ta thấy rằng tuy phương pháp hành thiền không phải là điểm cứu cánh tối hậu đưa đến sự giác ngộ, nó đóng một phần vai trò quan trọng cho hành giả bước đầu thực hiện quá trình tu tập thuần thục tâm. Do vậy, sau khi đức Phật đã điều phục tâm trở nên định tỉnh, không cấu uế, thoát ly mọi lậu hoặc, nhu nhuyến, dễ sử dụng, kiên cố, bất động; Ngài bắt đầu kết hợp với Tuệ giác của mình bằng cách hướng tâm hồi tưởng đến các tiền kiếp quá khứ và chứng được " Túc Mạng Trí " trong đêm canh đầu. Tiếp đó, Ngài hướng tâm đến "Sanh Tử Trí," thấu rõ về luật nhân quả về nghiệp mà chúng sanh đã tạo đưa đến kết quả tương xứng, và chứng đắc "Sanh Tử Trí "vào canh giữa đêm. Cuối cùng Ngài đột nhập vào tri kiến thứ ba, đó là tri kiến về " Khổ" và " Lậu Hoặc " qua Tứ Thánh Đế, Ngài chứng đắc " Lậu Tận Trí " vào đêm canh cuối. Và một tri kiến khởi lên trong Ngài: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa."(19)
Qua sự kiện chứng ngộ của đức Phật kéo dài suốt 3 canh (đầu, giữa và cuối), ta thấy rằng đức Phật luôn theo một tiến trình tuần tự trong quá trình tu tập chuyển hoá tâm linh bằng sự kết hợp Thiền và Tuệ. Đối với Ngài, các học Pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Điều này rất phù hợp với lời dạy của Ngài đã khẳng định trong Tiểu Bộ kinh:
"Ví như, này các Tỳ-kheo, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận h-ớng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy này các Tỳ-kheo, trong Pháp và Luật này các học Pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí, thình lình."(20)
Mặt khác, tiến trình giác ngộ của đức Phật luôn dựa trên Chánh Trí Tuệ làm nền tảng soi sáng tâm linh. Do vậy trong khi tu tập, Ngài luôn luôn để tâm hướng về Túc Mạng Trí, Sanh Tử Trí và Lậu Tận Trí làm kim chỉ nam trên bước đường tu tập hướng đến quả vị giải thoát giác ngộ. Điều này chứng tỏ rằng sự giác ngộ của Ngài không phải là trạng thái nằm ngoài tự thân, hay một vấn đề gì gọi là "xuất thần" cả, đó chính là một trạng thái chơn an lạc hạnh phúc tối cao kéo dài trong dài nhiều giờ dưới sự hỗ trợ của Tối Thắng Tri Kiến cực kỳ minh mẫn:
"Người tâm ý an tịnh; Lời an, nghiệp cũng an,
Chánh trí, chơn giải thoát; Tịnh lạc là vị ấy"(21)
Ngay tại đây, có lẽ chúng ta đã thừa hiểu được rằng: Bằng phương pháp gì đức Phật tu tập trong suốt qua trình chuyển hóa tâm linh hướng đến giác ngộ giải thoát?
III. PHẦN NHẬN ĐỊNH
Quá trình tu tập chuyển hoá tâm linh của đức Phật đưa đến sự chứng ngộ Vô thượng Bồ-đề là một bài học kinh nghiệm quý báu cho những ai muốn tầm cầu đạo giải thoát, an tịnh tâm linh. Chúng ta có thể nhận định như sau:
a - Quá trình của Phật được ghi lại như sau: "Dầu chỉ có da, gân hay xương còn lại, dầu thịt và máu có khô cạn trong thân, điều mà sự kiên trì của con người, sự tinh tấn của con người, sự nổ lực có thể đật được, nếu ch-a đạt được thời tinh tấn không có chấm dứt."(22) Hay trong kinh Pháp Cú 144 dạy rằng:
"Như ngựa hiền chạm roi; Hãy nhiệt tâm, hăng hái,
Với tín, giới, tinh tấn; Thiền định cùng trạch pháp,
Minh hạnh đủ, chánh niệm; Đoạn khổ này vô lượng"(23)
Nói cách khác, nếu sự giác ngộ của đức Phật là một quá trình tu tập lâu dài, thì hành giả hướng đến con đường giải thoát do Phật chỉ dạy phải luôn nổ lực tu tập liên tục tuần tự theo thứ lớp với tâm kiên cố, đạo niệm tinh chuyên theo con đường Bát Chánh đặt trên nền tảng Giới Định Tuệ.
b - Sự giác ngộ, giải thoát sẽ không đơm hoa kết trái một cách mỹ mãn cho những ai tu học vượt thứ bậc, hấp tấp, vội vã, cũng như không chuyên tu tập thiền định và thắng trí . Nó đòi hỏi hành giả phải tu tập theo thứ lớp với tâm định tỉnh và thuần nhất trong khi thiền định và tuệ quán qua con đường Bát Chánh:
"Ai sống một trăm năm; Ác tuệ, không thiền định,
Tốt hơn sống một ngày; Có tuệ tu thiền định."(24)
c - Sự giác ngộ của Ngài luôn dựa trên quá trình tổng hợp giữa Thiền và Tuệ. Vì sao? Vì Thiền và Tuệ như là đôi chân của hành giả đang trên đường tu tập giải thoát giác ngộ, nếu thiếu một trong hai thì quả vị Vô thượng Bồ-đề khó mà đạt được. Cũng vậy, nếu người nào tu tập thiền định mà không có sự hỗ trợ của Tuệ, Định đó sẽ trở thành Tà Định. Và ngược lại, nếu người tu tập Tuệ mà không có sự Thiền Định, Tuệ đó trở thành Tà Tuệ (Tà kiến). Do đó, người tu thiền luôn dựa trên sự tổng hợp giữa Thiền và Tuệ làm căn bản hầu mới đạt được thắng trí giác ngộ Niết-bàn:
"Tu thiền, trí tuệ sanh; Bỏ thiền, trí tuệ diệt,
Biết con đường hai ngả; Đưa đến hữu, phi hữu,
Hãy tự mình nổ lực; Khiến trí tuệ tăng trưởng."(25)
d - Sự giác ngộ của Ngài là một quá trình "chuyển mê khai ngộ," từ tư tưởng tiêu cực trở nên tích cực, từ tâm khổ đau phiền não hướng đến tâm an lạc giải thoát bằng sự nổ lực tự thân. Ở đây, Ngài muốn cho chúng ta thấy rõ rằng: sự chứng ngộ của Ngài là một quá trình nổ lực tự thân đúc kết từ những kinh nghiệm tu tập cũ của bản thân mà không nhờ một quyền năng bên ngoài nào hỗ trợ:
"Tự mình y chỉ mình; Tự mình đi đến mình,
Vậy hãy tự điều phục; Như khách buôn ngựa hiền."(26)
Đồng thời, khẳng định được sự chứng ngộ của Ngài không phải đạt được từ một điều gì mới mẻ cao xa, mà là sự chuyển hoá bản u mê và vô minh trở thành tuệ giác và tỉnh thức. Mặt khác, quá trình chuyển hoá tâm linh là một quá trình tu tập "phản bổn hườn nguyên" hay "hồi quang tự kỷ" để làm cho con người quay trở về với bản tâm thanh tịnh vốn có của chính mình mà bấy lâu bị màng vô minh vọng tưởng điên đảo che lấp. Đức Phật, Ngài đã ví dụ "bản tâm thanh tịnh" ban đầu của con người như một đạo lộ cũ, một con đường cũ, một cổ thành cũ đã bị lãng quên và nay đã được trở về với cổ thành xưa đó. Ngài dạy:
"Các ngươi nên biết, trong khi đi ngang một khu rừng, một chặn núi, tôi thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Tôi đã đi theo con đường ấy và thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao, với thành lũy đẹp đẽ. Thưa các Tôn giả, hãy xây dựng lại ngôi thành ấy"(27).
Quả thật, đạo Giác ngộ của Ngài luôn là vầng dương trí tuệ xua tan màn đêm vô minh phiền não đem lại ánh sáng an lạc hạnh phúc cho muôn loài, là thuyền từ bát-nhã đưa chúng sanh thoát khỏi biển ái sông mê, là con đường chân lý tối hậu đưa thế nhân đến quả vị cứu cánh Vô thượng Bồ-đề. Giáo pháp của Ngài thật sự:
"Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp; Bá thiên vạn kiếp nan tư ngộ,
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì; Nguyện giải Như Lai chơn thật nghĩa."
Cầu chúc quí vị vô lượng an lạc, vô lượng kiết tường, và mau sớm chứng ngộ Phật tâm của chính mình trên lộ trình tu học đạo giải thoát giác ngộ của Đấng từ phụ Thích Ca Mâu Ni.
Thứ Tư, 13 tháng 2, 2013
Chí tâm niệm Phật Tịnh độ hiện tiền
Đã lâu lắm rồi, từ cái ngày thơ ấu xa xôi khi con được mẹ dắt lên chùa,
theo thời gian, tất cả mọi thứ đều như cứ trôi đi, duy chỉ có câu niệm danh hiệu
Phật A Di Đà trầm bổng du dương còn đọng lại. Con thích niệm thầm danh hiệu Phật
từ thuở ấy, âm thầm chẳng cho mẹ biết và cũng chẳng hiểu tại sao.
Khi lớn lên, cũng như bao người trẻ khác, con bị cuốn vào cuộc sống hối hả
với bao thăng trầm, lợi danh, vinh nhục. Nhưng câu niệm Phật thì con vẫn âm thầm
mang theo như một hành trang vô hình, trì niệm trong những lúc có thể, và rồi
Sáu chữ Hồng danh trở nên thân thiết như một người bạn cố tri. Khi vui cũng như
lúc buồn, lúc thành công cũng như khi thất bại, lúc cô đơn cũng như khi hạnh
phúc, niệm Hồng danh Phật liền thấy lòng ấm lại, hết chơi vơi, bình tĩnh và
thanh thản hơn rất nhiều. Sau này học giáo lý Tịnh độ, con mới biết mình có căn
lành với pháp môn niệm Phật thâm diệu này.Càng niệm Phật, con nhận ra tình thương của Phật A Di Đà thật bao la, vô hạn. Hình ảnh Phật A Di Đà đứng trên tòa sen sáng lòa, duỗi cánh tay vàng tiếp độ luôn hiện ra trước mắt mỗi khi con niệm danh hiệu Ngài. Ngài thật cao cả và nhân từ, như một người cha, người thầy luôn soi sáng cho cuộc đời con. Với con, Phật A Di Đà không chỉ ở Tây phương mà ở ngay trong cõi Ta bà này. Ngài không chỉ cứu vớt những thần thức đọa lạc, tiếp dẫn họ vãng sanh mà còn luôn an ủi, soi sáng và thức tỉnh cho con cùng biết bao nhiêu người khác.
Giờ đây, con tin tưởng tuyệt đối vào Phật A Di Đà, cảnh giới Cực lạc thù thắng với vô vàn cảnh đẹp, thanh tịnh và trang nghiêm. Con luôn nguyện được sanh về Tịnh độ nên cố gắng xây dựng nền móng Tịnh độ trong cuộc sống hàng ngày. Sống với niềm tin trọn vẹn vào Phật A Di Đà, con cảm nhận sâu sắc năng lực cứu độ vô biên của Ngài. Chỉ một câu niệm Phật thôi, mà con hằng được soi sáng, chỉ dẫn và có nơi nương tựa. Cho đến một ngày, con nhận ra rằng “Tâm tịnh tức độ tịnh” hay nói cách khác “Đây là Tịnh độ/Tịnh độ là đây”.
Đúng là Tịnh độ ở Tây phương nhưng Tịnh độ cũng ở ngay đây và bây giờ khi tâm con bình an, vắng lặng và thăng hoa trong âm ba vang vọng điệp trùng Nam mô A Di Đà Phật. Sự đời thì vẫn cứ như nhiên, trôi đi với bao buồn vui thăng trầm nghiệt ngã. Con cũng đang xuôi trong dòng sông đời đó thôi nhưng sao tâm con bình an đến lạ, có thể vì con đã nắm được chiếc phao Thánh hiệu A Di Đà.
Cuộc đời con, rồi đây sẽ có những cái được thêm lên và cũng có nhiều thứ sẽ mất đi nhưng chắc chắn rằng câu niệm Phật thì luôn đọng lại, không thêm bớt. Tuy chưa được “Nhất tâm bất loạn” nhưng con nguyện hằng tâm niệm Thánh hiệu A Di Đà. Mỗi câu niệm Phật là một đóa sen, “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Luôn tưới tẩm và thắp sáng những đóa sen Thánh hiệu Phật ngay trong cuộc sống này, thì rõ ràng Cửu phẩm Liên hoa cũng chẳng ở đâu xa.
BẠCH VÂN
Cảm niệm về Đức Phật Di Dà
Giác Ngộ - Người Việt Nam tu pháp môn Tịnh độ,
chủ yếu theo kinh Tiểu bổn Di Đà và chuyên tâm niệm Phật để cầu vãng sanh về
Tịnh độ là thế giới Tây phương Cực lạc của Đức Phật Di Đà. Và ngày 17 tháng 11
là ngày vía Đức Phật Di Đà, nên được coi là ngày quan trọng nhất của những hành
giả tu theo pháp môn Tịnh độ.
Tuy nhiên, nếu tìm hiểu về pháp môn Tịnh độ, chúng ta thấy có
nhiều kinh mà Đức Phật Thích Ca nói về Tịnh độ Tây phương và giới thiệu về hành
trạng của Đức Phật Di Đà, như kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng
Thọ. Và về sau, ngài Thái Hư đại sư triển khai pháp môn Tịnh độ bằng cách
gộp thêm hai bộ kinh nữa là Hoa Nghiêm và Thủ Lăng Nghiêm; như
vậy, tổng cộng có năm bộ kinh giảng giải về Tịnh độ của Phật Di Đà, mà Ngài gọi
là Tịnh độ ngũ kinh.
Nếu căn cứ theo các bộ kinh nói trên, chúng ta tu hành còn phải
lập hạnh từ các kinh Nguyên thủy. Cũng như Đức Phật Di Đà cũng phải căn cứ vào
các Tịnh độ của chư Phật mười phương mà hình thành nên thế giới Cực lạc ở phương
Tây của Ngài.
Ngoài ra, trên bước đường tiến tu đến quả vị Toàn giác, để kiến
tạo Tịnh độ cho mình, hành giả cần phải đạt đến đỉnh cao nhất gọi là "Duy tâm
Tịnh độ", nhằm mục tiêu làm cho tâm của hành giả được hoàn toàn thanh tịnh, thì
Tịnh độ mới hiện ra và kỳ diệu thay, bấy giờ đó cũng là Tây phương Tịnh độ của
Đức Phật A Di Đà vậy. Hay nói cách khác, đó cũng là Tịnh độ ở cõi Ta bà mà Đức
Phật Thích Ca đã thể hiện sâu sắc cho tất cả đệ tử Ngài an trú từ khi Ngài còn
hiện hữu trên cuộc đời này và Tịnh độ đó vẫn hằng hữu cho đến ngày nay và mãi
cho đến tận vị lai kiếp vẫn ngời sáng.
Thể hiện tinh thần sâu sắc của yếu nghĩa Tịnh độ Tây phương, Tổ
Pháp Huệ đã dạy rằng:
Phật hiệu Di Đà Pháp Giới Tạng Thân tùy xứ hiện
Quốc danh Cực Lạc Tịch Quang chơn cảnh cá trung quyền.
Nhân ngày vía Đức Phật Di Đà, chúng tôi mong các hành giả suy nghĩ thấu đáo
về Tịnh độ, để xây dựng được cho mình một Tịnh độ ngay trong cuộc sống hiện tại
này và tùy nguyện mà thâm nhập được Tây phương Tịnh độ sau khi mãn duyên cõi
hồng trần.
HT.Thích Trí Quảng
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)







